aa
aHàng
chục đồ vật sinh hoạt trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và thời kỳ bao
cấp, làm từ phế liệu chiến tranh gồm vỏ bom, pháo sáng, xác máy bay, vỏ
đạn pháo.... được trưng bày tại triển lãm "Tôi kể chuyện này", từ ngày 3
đến 7/12, tại Hà Nội.
Đó là vỏ quả bom 250 cân được làm thành kẻng; vỏ bom bi làm thành vành xe đạp; vỏ đạn pháo làm thành các loại lọ cắm hoa; dây dù đan thành võng; dù pháo sáng làm thành khăn choàng cắt tóc; riđô cho các cặp vợ chồng; khăn quàng cổ mùa đông; mũ sắt làm cối giã cua, chậu đựng nước thử săm thủng của thợ sửa xe đạp, gầu múc nước; đèn làm từ vỏ quả đạn M79, ống pháo sáng...
Triển lãm cũng trưng bày 16 loại đồ dùng gồm điếu cày, gạt tàn thuốc lá, vỏ phích, đĩa đựng chén uống nước, hòm đựng quần áo, bàn uống nước... làm từ xác máy bay. Đặc biệt, có 5 loại đồ dùng làm từ xác máy bay B52 bị bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam bắn cháy trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972.
Triển lãm nhằm giúp người xem nhớ về chiến thắng hào hùng của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến, cũng như cuộc sống sinh hoạt đời thường của nhân dân Việt Nam thời bấy giờ.
Triển lãm "Tôi kể chuyện này" của nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, phóng viên báo Hà Nội mới được tổ chức nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" đã thu hút hàng trăm người tới tham quan.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến chia sẻ, những kỷ vật thiêng liêng này anh đã tâm huyết, nung nấu và canh cánh lưu giữ bên mình suốt những năm tháng qua. Việc tổ chức triển lãm ngoài ý nghĩa to lớn tái hiện lại một phần lịch sử hào hùng của đất nước, còn nhằm ca ngợi sự tài tình, sáng tạo của người dân Việt Nam khi đã biến những phế liệu chiến tranh thành những đồ dùng hữu ích hàng ngày, mang tính thẩm mỹ cao bằng chính đôi bàn tay, khối óc của họ.
Từ đây, anh muốn gửi thông điệp tới bạn bè, công chúng rằng, chiến tranh khép lại, lịch sử đã đi qua cần được tôn trọng, nhưng hãy rộng lượng để hướng tới hoà bình và những vũ khí chiến tranh chỉ đơn thuần là những đồ vật thông dụng./.
Không chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách Thành phố Hà Nội và Trung ương, huyện Đông Anh đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích để huy động mọi nguồn lực trên địa bàn thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới (XDNTM).
Xác định khối doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện là một nguồn lực đáng kể để có thêm ngân sách XDNTM, huyện Đông Anh đã chủ trương tuyên truyền, vận động và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía các đối tác. Bản thân các doanh nghiệp cũng hiểu, đóng góp tham gia XDNTM chính là đầu tư dài hạn cho việc kinh doanh nên trong năm 2012 các doanh nghiệp đã ủng hộ gần 130 tỷ đồng. Số tiền này huyện đã kết hợp với nguồn ngân sách địa phương giải ngân xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong huyện được 49km đường trục thôn, liên thôn; 68km đường ngõ xóm; 13km đường nội đồng.
Anh Nguyễn Hùng Cường, kỹ sư Công ty xây lắp Đông Anh cho biết: “Đầu năm, nghe lãnh đạo cơ quan phổ biến công ty sẽ tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng thực hiện chủ trương XDNTM trên địa bàn huyện, chúng tôi hồ nghi lắm! Nhưng, đến thời điểm này, bản thân những người kỹ sư bám cơ sở như chúng tôi mới thấy hiệu quả. Chúng tôi đi thi công công trình xây lắp ở các xã nông thôn thì đường sá đã hoàn thiện, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu và thi công. Chủ trương đúng và thực hiện nghiêm túc trong việc XDNTM cũng làm hiệu quả kinh doanh của công ty chúng tôi tăng trưởng”.
Huyện Đông Anh đã huy động nhân dân hiến gần 58.000m2 đất và đóng góp hơn 18.000 ngày công xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất, dân sinh. Đất đai như miếng cơm, manh áo, là tài sản lớn nhất của người nông dân nhưng để người dân tự nguyện, phấn khởi hiến 58.000 m2 là cả một quá trình dài. Thành quả đó phải có sự bắt tay, chung sức, chung lòng của toàn thể hệ thống chính trị từ cấp thôn trở lên với sự tuyên truyền, vận động thấu tình, đạt lý. Anh Lê Phong ở xã Hải Bối kể rằng: “Đất đai có tự đẻ ra được đâu nên không thể cứ bo bo ôm đất đai để rồi lạc hậu mãi được. Nhà tôi có vài sào đất 5% ven đê sông Hồng chỉ độc canh trồng rau 1 mùa khô vì mùa lũ lên đất bị ngập hết. Khi nghe cán bộ đến vận động hiến 1 phần diện tích đất ấy để xây dựng đường đê kiên cố hơn thì vợ con tôi phản đối kịch liệt nhưng tôi đồng ý ngay. Từ khi đường đê được kiên cố hóa, diện tích đất còn lại của nhà tôi có thể thâm canh 2 - 3 vụ rau trong năm nên thu nhập cũng tăng lên. Bây giờ tôi mới bảo vợ con tôi rằng: Hiến đất thì đất biết đẻ ra tiền đấy! Vợ con tôi chỉ cười trừ”.
Bên cạnh nguồn thu từ các doanh nghiệp, trong năm vừa qua, huyện Đông Anh đã tổ chức đấu giá được 12.350m2 đất với tổng kinh phí 207,9 tỷ đồng, thu về ngân sách được 96 tỷ đồng phục vụ công tác XDNTM. Từ nguồn lực đó, đến nay, huyện Đông Anh đã có 23 xã được phê duyệt đề án NTM cấp huyện; về quy hoạch NTM có 22/23 xã được phê duyệt, còn lại xã Cổ Loa do nằm trong khu vực di tích lịch sử quốc gia nên phải chờ Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Đơn cử như xã điểm Xuân Nộn, từ chỗ có 2/19 tiêu chí đạt, đến nay đã có 18/19 tiêu chí đạt và cơ bản đạt. Ở 22 xã còn lại đều đạt và cơ bản đạt từ 12 đến 14 tiêu chí; cơ sở hạ tầng được cải tạo đồng bộ như đường giao thông cơ bản được cứng hóa; 100% hộ dân được dùng nước sạch, nước hợp vệ sinh và dùng điện bảo đảm an toàn; 100% diện tích đất canh tác 3 vụ được tưới tiêu chủ động…
Bí thư Huyện ủy Đông Anh Nguyễn Văn Quang nhận định: “XDNTM là nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống chính trị. Trong đó, nguồn lực lớn nhất là trong cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn”. Đây là cách làm hay mà Đông Anh đã ứng dụng thành công để chương trình XDNTM thực sự là của dân, do dân và vì dân./.
1. Ý thức cộng đồng kỳ diệu Nhà, Làng, Nước
Dân tộc ta và người Hà Nội đều xuất thân từ xã hội nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, tự cung tự cấp, trên môi trường nhiệt đới cận biển, gió mùa, nhiều thiên tai, bão tố, lụt lội... Tọa lạc trong ngã ba đường thuận lợi giao lưu kinh tế - văn hoá với nhân loại, nhưng giặc ngoại xâm lại luôn quấy nhiễu, ý thức cộng đồng đã cố kết, đoàn kết mọi người trước thiên tai, địch họa trong lịch sử dựng nước, giữ nước lâu dài, gian khổ.
Trong đời sống xã hội Việt Nam, gia đình có một vai trò đặc biệt quan trọng. Gia đình truyền thống của người Hà Nội, từ thời Hùng Vương đến nay, đều là gia đình thuận hòa, hiếu thảo, đầm ấm. Dù đã nhiều đời sinh ra, lớn lên ở thành phố, vẫn gắn bó Nhà (gia đình) với Làng quê và Đất nước, với văn hóa cổ truyền dân tộc. Nước mất thì nhà tan. Làng xóm gặp hoạn nạn, mọi gia đình cũng không yên. Gia đình nghèo khó thì cũng khó làm trọn vai trò con dân của làng, nước. Mối quan hệ kiềng ba chân Nhà - Làng - Nước chính là triết lý, là ý thức cộng đồng của người Việt. "Trong lịch sử lâu dài của nước ta, hệ thống cơ cấu Nhà - Làng - Nước là cột trụ làm nên sức sống của dân tộc, nó là ba cái khâu của một sợi dây chuyền không gì phá vỡ nổi, mỗi khâu đều có tầm quan trọng của nó"(1). Bà con ở các miền quê ra Hà Nội làm ăn đã lâu đời, hay ra nước ngoài làm ăn, dù giàu hay nghèo, dù theo tôn giáo nào, đều đau đáu hướng về gia đình, tổ tiên, họ mạc, quê hương, đất nước. Dường như có một quy luật "cái khổ nhớ lâu", chứ có mấy ai nhớ lâu cái sướng, cái vui.
Ý thức cộng đồng kỳ diệu Nhà, Làng, Nước là cái hay, đẹp của văn hóa - xã hội cội nguồn dân tộc ta. Đó là chất keo gắn bó mọi người Việt Nam. Tách khỏi cộng đồng, cá thể khó tồn tại được trước thiên tai, địch họa. Cái nổi trội là cộng đồng. Trong xã hội xưa nghèo nàn, lạc hậu, cái cộng đồng lấn át cá nhân, hòa tan mọi cá nhân tự do sáng tạo trong cộng đồng. Cái bất cập là ý thức cá nhân dường như chưa khẳng định được vị thế của nó trong xã hội cổ truyền và kể cả "thời bao cấp".
Ý thức cộng đồng của người Việt Nam và Hà Nội rất cần được gìn giữ, phát huy trong cuộc sống hiện đại. Nhưng đã đến lúc cần phát triển được ý thức cá nhân lành mạnh của mỗi người Hà Nội trong nền văn minh trí tuệ, với kinh tế tri thức đầy cạnh tranh của nhân loại.
Người Việt Nam, người Hà Nội vốn thông minh, nhạy cảm, năng động tiếp cận cái mới trong khoa học và trong sáng tạo. Xin dẫn một thí dụ về Việt kiều với công nghệ thông tin thế giới: "Chỉ tính riêng tại thung lũng Silicon (Mỹ) hiện có 10.000 - 12.000 người gốc Việt đang làm việc... Ông Ngô Đức Chí, Tổng giám đốc Global Cybersoft Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh nói: "Thành công nhất của chúng tôi chính là được khách hàng rất tin tưởng. Chúng tôi có nhiều nhân viên giỏi, có kinh nghiệm trong ngành bán dẫn để thực hiện việc tự động hoá cho những nhà máy sản xuất chíp của châu Âu... Dường như người Việt sinh ra để làm phần mềm. Các đối tác cũng sẵn sàng sử dụng kỹ sư Việt Nam vào các dự án nghiên cứu và phát triển, tạo ra sản phẩm mới"(2).
Ngày nay, thế giới như một cái làng toàn cầu. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, vấn đề phát huy ý thức cộng đồng và phát triển ý thức cá nhân tự do sáng tạo, lòng tự tôn dân tộc chân chính và nhân tài khoa học trong mọi lĩnh vực là những đòi hỏi có tầm chiến lược đối với Hà Nội và cả nước. Đó là tạo điều kiện cho mọi người Hà Nội năng động học tập, tiếp cận cái mới về khoa học, công nghệ... để độc lập suy nghĩ, sáng tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh quốc tế (giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô, hàng hoá giá trị thấp), để đưa nước ta ra khỏi tình trạng tụt hậu, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
2. Nền tảng văn hoá cội nguồn dân tộc ta
Đạo lý làm người của dân tộc ta, của người Hà Nội vốn được hình thành từ thời Hùng Vương, khi xã hội đã có thủ lĩnh, tù trưởng, với vua Hùng và các Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc dân... Nhiều truyện cổ tích nói về nền nếp gia đình, xã hội thời dựng nước: Lạc Long Quân dạy dân cày cấy, chăn tằm, dệt lụa, đặt ra tôn ti, đạo cha con, vợ chồng. Chuyện Chử Vi Vân và con Chử Đồng Tử cha hiền từ, con hiếu thảo. Thánh Tản Viên có gậy thần chống lụt, cứu sống nhiều người, gia súc; hàng ngày vẫn kiếm củi, đốt than nuôi mẹ. Chuyện Động Đình Vương có tài thủy chiến, hết lòng vì nước, được giao trấn vùng hạ lưu sông Hồng. Động Đình Vương là con trai Hùng Nghị Vương (con vua Hùng thứ 17) và Hằng Nương quê ở Nghi Tàm, sống ở làng Long Đỗ (Thành cổ Thăng Long hiện nay)(3). "Thần thoại có khi giàu tính lịch sử, bởi nó là lịch sử thông qua tính sáng tạo thơ mộng của dân gian"(4).
Thời phong kiến, nước ta và các nước Đông Á lấy Nho giáo làm nền tảng luân lý, giáo dục xã hội xưa; hướng mọi người vào chính danh định phận theo tam cương, ngũ thường (cương thường). "Tam cương" nói vắn tắt là 3 quan hệ, trật tự chủ yếu trong xã hội phong kiến: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng (quân - thần, phụ - tử, phu - phụ) và mở rộng ra là ngũ luân (vua - tôi, cha - con, anh - em, vợ - chồng, bạn bè). "Ngũ thường" là 5 đức cơ bản của đạo làm người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Người trên (vua, cha, chồng) phải thương yêu, chăm sóc, bao dung người dưới (tôi, con, vợ). Người dưới phải kính nhường, thương yêu, phục tùng và biết ơn người trên. Đạo đức Nho giáo lấy sự thuận hoà, thái bình, hòa mục, trật tự, làm nền tảng để xây dựng xã hội (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ, anh ra anh, em ra em, bạn ra bạn và thầy ra thầy, trò ra trò, chủ ra chủ, thợ ra thợ...). Nho giáo có điểm mạnh là xác lập được các quan hệ, trật tự xã hội phong kiến. Nhưng, quan hệ vua - tôi: "trung quân, ái quốc" lại trói buộc cá nhân dưới quyền uy vua chúa, thần quyền; làm mất quyền tự do, dân chủ phát triển cá nhân của mọi người. Một điểm yếu nữa của Nho giáo là nam tôn nữ ty (trọng nam khinh nữ).
Trước hoàn cảnh đó, ông bà ta đã biết khéo léo gìn giữ văn hóa nội sinh và dung hợp Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, kể cả Kitô giáo... để làm giàu thêm văn hóa dân tộc. Bản sắc dân tộc đọng lại bền vững trong tâm thức người Việt Nam qua những biểu hiện văn hóa rất đậm nét:
Trước tiên, mọi người đều hướng tới chữ "tâm". Mọi gia đình đều răn dạy con cháu "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín"; đều cảm nhận lẽ chuyển dịch vi hằng của mối quan hệ trời - đất - người" (thiên - địa - nhân hợp nhất). Ở bái đường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, vị đại quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long, Nguyễn Nghiễm (thân phụ đại thi hào Nguyễn Du) hiện còn để lại bức đại tự "Cổ kim nhật nguyệt" (tạm dịch: từ xưa đến nay mặt trời, mặt trăng luôn soi sáng; ai làm điều khuất tất trời đất đều biết cả). Một lời dạy về thiện tâm cho muôn thuở!
Mọi người đều xem vận mệnh đất nước là hệ trọng nhất. Đó là lòng yêu nước nồng nàn: biểu hiện văn hóa là tôn thờ các anh hùng, liệt sĩ "sinh vi tướng tử vi thần", có công với đất nước, quê hương ở các đình, đền, cả ở chùa, miếu... Việc trồng lúa nước, văn hóa làng xã đòi hỏi sự cố kết cộng đồng, biểu hiện rõ nhất là nhiều lễ hội cầu mùa, cầu "quốc thái dân an", cầu "âm dương hòa hợp", phồn thực, "đa phúc, đa lộc, đa thọ". Người Việt Nam rất trọng tình nghĩa và luôn bao dung, xóa bỏ hận thù, chia ngọt sẻ bùi, giúp nhau khi hoạn nạn. Mọi gia đình đều coi trọng văn hóa tâm linh, thờ cúng tổ tiên, âm đức tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ Quốc tổ Hùng Vương. Mọi gia đình đều dạy con cháu biết hiếu thảo, siêng năng, cần kiệm, biết lo xa, sống nhân hậu.
Xã hội tôn trọng những gia đình có nền nếp gia phong, con cháu biết lễ nghĩa, kính trên nhường dưới, thuận hòa, tôn sư trọng đạo... "Chữ Lễ bao hàm ba nghĩa: tôn giáo, xã hội và luân lý. Nó gồm cả lễ nghi trong việc thờ cúng, nghi thức trong quan hệ xã hội, tác phong đúng mực của con người biết tự trọng, ngay cả khi ở một mình con người cũng phải biết giữ lễ. Việc giữ lễ bao trùm cả đời sống cá nhân và xã hội"(5). Tự trọng danh dự bản thân từ người dân cho đến cán bộ cao cấp là điều luôn phải tự răn mình: "Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng".
Người Việt Nam, người Hà Nội luôn năng động sáng tạo, thích nghi trước mọi hoàn cảnh, tình huống, dù thiên tai, địch hoạ bất ngờ. Từ nghìn xưa đến nay, trong giao lưu, tiếp cận với văn hoá ngoại sinh, dân tộc ta luôn dung hợp những giá trị văn hóa vì lợi ích dân tộc, chứ không giáo điều tiếp nhận "cả gói". Trong hai lần, dù bị cưỡng bức, tiếp xúc với văn hóa phương Bắc, phương Tây, nhưng bằng trí tuệ sáng tạo, dân tộc ta đã Việt hóa thành công chữ Nôm, chữ Quốc ngữ. Ngày nay, đội ngũ trí thức, thế hệ trẻ trong nước và Việt kiều đang tiếp cận sáng tạo, làm chủ công nghệ thông tin, nanô... cũng chính là biểu hiện thế mạnh, khả năng thích nghi, năng động sáng tạo, vượt qua thách thức. Đó là ý chí tự cường, tự tôn dân tộc để vươn lên, chứ không chịu thu mình lại, để mất thời cơ, để đưa nước ta vượt qua tình trạng trì trệ, tụt hậu hiện nay. Còn khi gặp nhau, bạn bè lại thường thích vui dân dã, đôi khi chất dân gian mạnh hơn tính chính thống.
Những bản sắc trội đó của văn hóa cội nguồn Việt Nam được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Thăng Long - Hà Nội và mọi miền đất nước.
Vấn tổ, tìm tông, trong xã hội Việt Nam từ xưa đến nay, người con trai trưởng chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Hàng năm vào các ngày giỗ, các anh em trong gia tộc đến góp giỗ tuỳ theo khả năng, để thờ cúng và cùng hưởng lộc tổ tiên. Chính các ngày giỗ chạp đó mà anh em, con cháu trong họ có dịp sum họp, hàn huyên, giúp đỡ nhau trước những việc nảy sinh trong cuộc sống của các thành viên trong gia tộc. Trong xã hội thuần nông, tự cung tự cấp, nhiều thiên tai, địch họa bất ngờ, tình cảm gia đình thiêng liêng và ý thức cộng đồng Nhà - Làng - Nước luôn đùm bọc, tuy không lớn về vật chất, nhưng lớn về tình cảm và đã giúp cho từng người vượt qua khó khăn thường nhật. Sự bền vững của gia đình cổ truyền Việt Nam được củng cố nhờ mối dây huyết thống đó.
Trong quan niệm của người Việt, người Hà Nội, phúc, đức là giá trị văn hoá cao quý nhất. Phúc là điều may mắn lớn, sự tốt lành lớn. Đức là đạo đức, lòng nhân ái, lòng thương người và thương cả muôn loài sinh vật nữa. Như vậy, phúc đức của gia đình vừa đậm đà ý vị tâm linh, vừa giáo dục, nhắc nhở hướng thiện. Nói "gia đình vô phúc" là một sự chê trách rất nặng nề. Một cô, cậu con nhà nào ăn chơi hư hỏng (trai gái đĩ điếm, cờ bạc, nghiện hút...) thường bị gọi là con nhà vô phúc. Phúc gắn liền với đạo nghĩa, vô phúc là vô đạo, vô văn hóa. Nhà có phúc không nhất thiết là giàu có, sang trọng, mà cái chính là có cuộc sống bình yên, đặc biệt là có hậu vận tốt, dù lúc khởi nghiệp gặp khó khăn, vất vả, nhưng cuối cùng vẫn được hanh thông, bình yên, tiến bộ, con cháu phương trưởng. Xưa nay, nói đến truyền thống văn minh, thanh lịch Hà Nội là nói đến gia đình có phúc đức, là con cháu có học, làm nên danh phận, chí ít cũng có nghề, làm ăn chân chỉ "giữ được tiếng với đời"; ăn ở thuận hoà với gia đình, họ mạc, quê hương, không làm điếm nhục gia phong, để không ai trách cứ ông bà, cha mẹ. Ông bà ta thật đã dày công gây dựng quan niệm về phúc đức trở thành thuần phong mỹ tục và lòng tự trọng cao để mọi người, gia đình, xã hội yên ổn phát triển.
3. Truyền thống văn minh, thanh lịch của người Hà Nội
Từ xưa đến nay, Thăng Long - Hà Nội được xem là đất địa linh nhân kiệt, là nơi hội tụ, lan tỏa tinh hoa văn hóa của mọi vùng ra cả nước. Ban đầu là những người dân "gốc Hà Nội" sinh sống, làm ăn, mở chợ buôn bán nông, lâm, thổ sản trên bến dưới thuyền tấp nập bên sông Nhị Hà, sông Tô Lịch, bến Long Đỗ (Rốn Rồng). Rồi suốt mấy nghìn năm, nhất là từ khi Lý Thái Tổ định đô Thăng Long, cùng với các triều đại phong kiến độc lập, tự chủ Lý, Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn, bà con các vùng từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam, người Huế, Đồng Nai, Gia Định, người dân tộc, miền núi... đều là những người tài giỏi, lịch lãm, đổ về "cái lò luyện nhân tài Thăng Long - Hà Nội" sinh sống lâu dài.
Người tài thì lên làm vua, làm quan. Học trò về Thăng Long, Hà Nội đi thi, mong đỗ đạt tú tài, cử nhân, tiến sĩ, trạng nguyên để "Vua biết mặt, chúa biết tên". Người học cao, đức trọng thì mở trường, lớp dạy học trò, luyện nhân tài cho đất nước. Người giỏi buôn bán thì mở cửa hàng nông, lâm thổ sản, buôn hàng Tầu, Nhật, Âu Mỹ... Người giỏi tay nghề thì mở làng nghề, phố nghề. Các khách thương người Hoa, Ấn Độ, Nhật, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Pháp, Đông Nam Á... đến dựng nhà, lấy vợ lấy chồng, buôn bán, làm ăn. Hàng hóa tiêu dùng rất đa dạng, phong phú của Thăng Long - Hà Nội không chỉ đáp ứng nhu cầu của triều đình mà còn bán ra cả nước, vùng Đông Nam Á và ra thế giới.
Sống nơi thị thành, đô hội, giao lưu kinh tế, văn hoá đa dạng, đa chiều, văn minh, thanh lịch, ăn nói có duyên, hoạt bát, lịch sự... như những nét văn hóa riêng của người Hà Nội. Khác với những địa phương khác, người ta có thể nói rất thẳng, thậm chí bỗ bã ý nghĩ của mình, thì người Hà Nội ở chốn kinh kỳ, diễn đạt cũng vấn đề ấy một cách tế nhị, nền nã, tinh tế hơn, ít lời hơn, ý tứ hơn, mà vẫn đạt mục đích: "Lời nói không mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".
Nếu có dịp sống, quen biết với một gia đình người Hà Nội lâu năm, dù làm nghề gì ta đều thấy họ nói năng, cư xử trong gia đình, với con cháu, bạn bè xã hội và quốc tế với sự tôn trọng, nền nã, khiêm nhường, kiệm lời, nhã nhặn, tự tin, nhẹ nhàng, khéo léo, ý tứ, để tự xử sự cho phải đạo là chính, hơn là chỉ bảo, ra lệnh. Điều đó cũng dễ hiểu, trong môi trường giao lưu, buôn bán, làm ăn với người "tứ xứ" hợp lại, kể cả nhiều kiểu người, nhiều khách nước ngoài đến làm ăn, người Hà Nội thường biết giảm, tránh những va chạm, xung đột không cần thiết. Nếu có sự khác nhau về nhận thức, quyền lợi, họ cũng thường biết nhường nhịn đến độ cần thiết; còn nếu nhường vẫn không đạt, thì tế nhị rút lui, không làm mất lòng nhau, để lần sau còn có dịp lại làm ăn với nhau.
"Người khôn, của khó", người Hà Nội biết mở mang ra mà làm ăn, không thủ cựu khép kín, cũng không tham "ăn đậm", "rộng đồng thu lại, tích tiểu thành đại". Học người, học bạn bốn phương mà giỏi tay nghề, tăng hiểu biết, tinh tế hơn, sáng tạo giỏi hơn để đua chen với thiên hạ là nếp làm ăn của người Hà Nội văn minh, thanh lịch. Tài năng, sức học, trí thông minh sáng tạo khoa học, công nghệ, nghệ thuật, học hành của người Hà Nội, tuổi trẻ Hà Nội nổi tiếng trong nước và quốc tế.
Áo lụa, đũi tơ tằm, lĩnh Bưởi, giấy dó, giấy sắc phong, chả cá Lã Vọng, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét, bún thang, bún ốc, xôi lúa Tương Mai, cốm Vòng, hoa đào Nhật Tân... xưa; áo dài, complê, giầy dép, quần áo may sẵn; sách báo, văn học nghệ thuật, cà phê, xe đạp, ti vi, máy tính Hà Nội, khóa Việt-Tiệp, ghế Xuân Hòa, Vietnam Airline... ngày nay, được bốn phương quen biết, ưa chuộng. Các giá trị văn hóa dân tộc, khoa học hiện đại và hàng tiêu dùng đều được lăng kính văn hóa người Hà Nội chắt lọc dung hợp, nâng lên đến độ tinh tế, thành tinh hoa văn hóa Hà Nội, mà mọi người đều cảm nhận được. Suy cho cùng, chính môi trường đô thị "địa linh, nhân kiệt" đã đào luyện nên nhân cách văn hóa tinh tế Hà Nội, mà bất cứ ai nhập vào đều tự nguyện chuyển đổi hành vi theo. Ngày nay, trong quan hệ làm ăn, ngoại giao quốc tế... người ta đều đang phát huy chất văn hóa nhẹ nhàng, tinh tế đó mới thành đạt.
4. Người Hà Nội: cuộc sống hiện đại và văn hoá cội nguồn
Từ hai thập niên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, cùng với chế độ cai trị, bóc lột tàn bạo và quá trình đô thị hóa của thực dân Pháp, văn hóa Hà Nội và Việt Nam có những biến đổi cơ bản. Chữ Hán lâu đời dần nhường bước cho chữ quốc ngữ dễ học, dễ viết. Một số tư tưởng tiến bộ của văn hóa châu Âu như tự do, bình đẳng, bác ái dần dần được du nhập vào nước ta. Nhất là từ Cách mạng tháng Tám 1945, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng dân chủ, tiến bộ nhất được phổ cập. Đặc biệt trong đổi mới, mở cửa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, văn hóa chuyển sang hướng dân chủ, văn minh, tiến bộ, trong khi vẫn trân trọng giữ lại những giá trị tốt đẹp của ông cha ta ngàn đời để lại.
Mặt khác, toàn cầu hóa là xu thế thời đại đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mà nước ta, thủ đô Hà Nội đang chủ động hội nhập. Nền văn minh trí tuệ, công nghệ thông tin... của thế giới, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật Bản... đang phát triển như vũ bão, kỳ diệu, mang đến tiện ích lớn cho nhân loại. Ta có nhiều cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển đất nước, thoát dần khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
Nhưng trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa đang diễn ra những thách thức lớn, tưởng như thầm lặng. Toàn cầu hóa đang dẫn đến "nguy cơ đồng nhất hóa các chuẩn mực, các hệ thống giá trị, đe dọa làm suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hóa - nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững của nhân loại"(6). Chính vì thế mà Hội nghị ASEM 5 tại Hà Nội 2004, các nguyên thủ quốc gia Á, Âu đã ký "Tuyên bố về Đa dạng hóa văn hóa". Nhiều làn sóng văn hóa tràn vào Hà Nội dễ dàng. Mặt trái của "lối sống phương Tây", "lối sống Mỹ" đang du nhập vào Hà Nội, mang theo lối sống cá nhân cực đoan, quá sùng ngoại, thực dụng, quá trọng đồng tiền, coi nhẹ văn hóa dân tộc. Ai sống cũng cần tiền, nhưng tham nhũng, cửa quyền, để mất danh dự, lương tâm vì đồng tiền, vì "tiêu dùng quá mức" mình làm ra, trước sau cũng phải trả giá đắt. Điều đó đi ngược lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta.
Trong đổi mới, mở cửa và tác động nhiều chiều của các yếu tố ngoại sinh, dân tộc ta và mọi người Hà Nội đang chuyển từ lối sống xã hội thuần nông, từ văn hóa truyền thống sang lối sống văn minh công nghiệp. Trong cuộc sống hiện đại và giao lưu quốc tế người Hà Nội vẫn gìn giữ tốt bản sắc văn hóa ngàn năm văn hiến. Đó là chất trí tuệ, nghĩa tình, thanh nhã, duyên dáng, khoa học, hiện đại, nhưng không xô bồ, thái quá, đồng thời cách tân những quan niệm thủ cựu và bổ sung những giá trị mới, phù hợp với sự phát triển xã hội hiện đại. Trong gia đình, lòng hiếu thảo, biết ơn, chăm sóc chu đáo ông bà, cha mẹ khi già yếu, được số đông người Hà Nội xem là nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của con cháu, ông bà có con cháu bên cạnh là nguồn động viên tình cảm thân thương. Đùm bọc các em chưa thành niên, chưa có việc làm, khi cha mẹ đã qua đời, là bổn phận các anh chị đã trưởng thành. Bà con họ hàng nội, ngoại đến thăm nhau ngày tết, khi cháu mới sinh, khi có đám hiếu, hỷ... là một nét đẹp của người Hà Nội. Lúc có vui, buồn, họ hàng, xóm phố... mỗi người đến đều tự nguyện giúp một việc cho chu đáo. Đó là nếp văn minh, thanh lịch, ấm tình người của người Hà Nội.
Cuộc điều tra xã hội học của ngành Văn hóa Thông tin Hà Nội (2004), cho thấy dư luận nhất trí đề cao các giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc ta và của người Hà Nội: yêu nước, ý thức cộng đồng, tự cường dân tộc; hiếu thảo, hiếu học, tôn sư trọng đạo thờ cúng tổ tiên; bổn phận, tự trọng, tình nghĩa, chữ tín; hòa thuận, kính trên nhường dưới, trong ấm ngoài êm, nền nếp, thanh lịch; tài hoa, chuộng người tài, chuộng cái mới, khéo léo, tế nhị, mến khách, quý xóm giềng, bạn bè...
Các giá trị hiện đại, tiến bộ được dư luận Hà Nội coi trọng: dân chủ, tự do, trí tuệ khoa học, văn minh, trách nhiệm, danh dự, bình đẳng, năng động, sáng tạo, công bằng, minh bạch, đoàn kết, tiến bộ, ý thức vươn lên. Đó là sự đồng thuận về giá trị văn hóa dân tộc - hiện đại, tạo nên sự ổn định, phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở thủ đô Hà Nội hiện nay.
Xây dựng Hà Nội văn minh, thanh lịch là từng bước xây dựng lối sống văn minh công nghiệp và nếp sống văn hóa dân tộc - hiện đại, là nâng cao, chuyển đổi hành vi sinh hoạt, giao tiếp và bảo vệ môi trường sống... phù hợp với trình độ phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Thủ đô. Lối sống có liên quan chặt chẽ đến nếp sống. Nếp sống thể hiện kết quả văn hóa hóa quá trình xây dựng lối sống. Nếp sống nói lên tính định hình, định lượng của lối sống về cách nghĩ, hành động phù hợp với quy ước cộng đồng và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong đời sống cá nhân và xã hội. Lối sống, nếp sống, phong tục tập quán là sản phẩm của một thời đại. Xây dựng nếp sống người Hà Nội thanh lịch, văn minh trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là vận động toàn xã hội thực sự tham gia bằng nhiều hình thức sinh động để giáo dục, hướng dẫn kiên trì cho thành nếp, thành thói quen mới, phù hợp với cuộc sống văn minh công nghiệp và hội nhập quốc tế.
Thực tế, cư dân Hà Nội vào thế kỷ XXI ngày nay không phải chỉ là những cư dân cũ của Hà Nội xưa. Mọi người đến làm ăn, kể cả người nước ngoài, đều mang theo những lối sống, nếp sống, phong tục tập quán từ các địa phương, ít nhiều khác biệt với văn hóa Hà Nội. Vấn đề quan trọng là xây dựng lối sống đô thị trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập. "Tốc độ đô thị hóa trở thành những thách thức phát triển lớn nhất của thế kỷ XXI... Nông dân tìm việc làm ở thành phố; cải thiện khả năng sinh sống; giảm bớt đói nghèo, bất bình đẳng và tạo ra môi trường đô thị lành mạnh, giảm tội ác và bạo lực, chế độ bảo vệ công dân và người dân dễ tiếp xúc với các dịch vụ"(7). Cũng như các thành phố khác trên thế giới, Hà Nội cần đồng thời đề ra các quy định bắt buộc và các giải pháp vận động cụ thể nhằm xây dựng hành vi ứng xử văn minh, tự giác của mọi người trước hai nhóm vấn đề chung của văn hóa đô thị hiện đại:
a. Các vấn đề văn hóa về cơ sở vật chất, dân sinh đô thị như sử dụng đất, nhà ở, dịch vụ điện, nước, khí đốt, viễn thông; vỉa hè, vệ sinh công cộng, hệ thống thoát nước, rác thải, khí thải; chống ô nhiễm môi trường; trồng cây xanh, công viên vui chơi giải trí...
b. Các vấn đề văn hóa - xã hội công cộng như tạo thêm việc làm, giảm trẻ lang thang, xóa đói giảm nghèo, sự phân hóa giàu - nghèo quá chênh lệch, giáo dục cơ sở (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học); y tế và bảo hiểm y tế; an ninh xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh và các tệ nạn xã hội, bạo lực, ma tuý, mại dâm, HIV, cờ bạc; những hành vi xấu, tuỳ tiện đối với môi trường công cộng...
Nội dung cơ bản xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch đã được xác định là "Vững vàng về tư tưởng chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có lòng tự hào dân tộc, tự trọng, tâm huyết, trách nhiệm với gia đình, Thủ đô, đất nước; có sức khoẻ, trí tuệ, khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến, nhanh nhạy, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh; lao động cần cù, sáng tạo; có lối sống văn minh, thanh lịch, hiện đại; tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong cách lao động sáng tạo của con người Việt Nam"(8). Đó là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, xã hội và làm cho văn hóa thấm sâu vào từng người Hà Nội theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc sống hiện đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ; Cái gì cũ mà không xấu nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý; Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm; Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm... Đời sống mới chỉ sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc"(9). Những lời dạy giản dị, sâu sắc của Bác Hồ có thể hiểu là hướng dẫn chuyển đổi hành vi về "cách ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc" trong cuộc sống hiện đại.
5. Kết luận
Thủ đô Hà Nội "là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế"(10). Hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô đang đẩy mạnh phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, xã hội toàn diện; xây dựng cơ sở hạ tầng và quản lý đô thị; chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Vấn đề trọng tâm là xây dựng con người Hà Nội vừa hiện đại, vừa giàu bản sắc ngàn năm văn hiến. Ý thức - cộng đồng, yêu nước, văn minh, thanh lịch, chuộng người tài, chuộng cái mới, tinh tế, dung hợp văn hóa tiến bộ của nhân loại thành giá trị văn hóa dân tộc - hiện đại là truyền thống sáng tạo của người Hà Nội. Ngày nay, trong đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, cần phát triển, thu hút các tài năng khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, văn hóa, nghệ thuật... đặc biệt là tạo mọi điều kiện để phát triển sức năng động sáng tạo, ý thức tự cường, tự tôn dân tộc của mọi người Hà Nội để rửa nỗi nhục nghèo nàn, tụt hậu, đưa đất nước đi lên trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức của nhân loại.
Văn minh, thanh lịch biểu thị trình độ văn minh, sự thích nghi, năng động sáng tạo tài hoa của người Hà Nội. Để phát triển nguồn nhân lực và nhân tài của Thủ đô Hà Nội phải liên tục bồi đắp 3 nguồn lực: năng lực (ability) cá nhân, sự nỗ lực (effort) của bản thân và trợ lực (support) của xã hội. Đó là quy luật phát triển nhân lực, nâng tầm phát triển người Hà Nội văn minh, thanh lịch lên một cấp độ mới về chất trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.
shop hoa tươi Hà Nội , shop hoa hà nội , shop hoa ở tại hà nội
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT031 1.280.000 VND |
shop hoa Hà Nội - SHKT030 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT029 1.480.000 VND |
shop hoa Hà Nội - SHKT028 780.000 VND |
shop hoa Hà Nội - SHKT027 1.280.000 VND |
shop hoa Hà Nội - SHKT025 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT026 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT024 880.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT023 980.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT022 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT021 880.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT020 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT019 980.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT017 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT016A 1.680.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT016 1.680.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT015 1.780.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT014 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT013 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT012 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT011 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT010 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT009 980.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT008 680.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội , shop hoa hà nội , shop hoa ở tại hà nội
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT007 780.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT006 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT005 1.080.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT004 780.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT003 2.580.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT002 980.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - SHKT001 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM051 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM050 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM049 1.200.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM048 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM047 1.000.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM046 980.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM045 750.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM044 1.540.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM043 1.250.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM042 950.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM041 900.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM040 1.350.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM039 850.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM038 1.350.000 VND |
shop hoa Hà Nội - DVCM037 1.480.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM036 800.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM035 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội , shop hoa hà nội , shop hoa ở tại hà nội
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM033 1.400.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM032 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM031 900.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM030 1.000.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM029 1.350.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM028 1.500.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM027 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM026 850.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM025 1.800.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM024 1.250.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM023 600.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM022 550.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM021 600.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM020 700.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM019 1.350.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM018 1.250.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM017 600.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM016 1.250.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM015 650.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM014 790.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM013 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM012 790.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM011 1.900.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM010 1.800.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội , shop hoa hà nội , shop hoa ở tại hà nội
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM009 950.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM008 800.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM006 850.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM007 900.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM005 1.200.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM004 2.800.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM003 950.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM002 1.480.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội - DVCM001 1.300.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HKT30 950.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HKT15 950.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HKT05 900.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HKT01 850.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - CB12 1.036.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - CB11 700.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - CB10 1.370.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - CB09 850.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-34 1.000.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-33 900.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-32 750.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-31 450.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-30 600.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-29 550.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-28 600.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội , shop hoa hà nội , shop hoa ở tại hà nội
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-27 600.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-26 800.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-25 12.000.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-24 1.000.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-23 1.050.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-22 1.500.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-21 800.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-20 750.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-19 900.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-18 550.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-17 950.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-16 800.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-15 1.300.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-14 950.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-13 1.200.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-12 850.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-11 800.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-10 850.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-9 1.100.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-8 850.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-7 950.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-6 1.800.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-5 1.900.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-4 2.400.000 VND |
shop hoa tươi Hà Nội , shop hoa hà nội , shop hoa ở tại hà nội
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-3 650.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-2 1.100.000 VND |
shop hoa tươi ở tại Hà Nội - HT-1 750.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT49 500.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT48 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT47 1.400.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT57 500.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT24 1.100.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT26 500.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT27 450.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT22 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT21 1.100.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT28 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT29 1.400.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT20 500.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT19 650.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT18 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT17 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT37 600.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT38 500.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT39 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT40 550.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT41 650.000 VND |
Shop hoa tươi tại Hà Nội SHT35 500.000 VND |
Đó là vỏ quả bom 250 cân được làm thành kẻng; vỏ bom bi làm thành vành xe đạp; vỏ đạn pháo làm thành các loại lọ cắm hoa; dây dù đan thành võng; dù pháo sáng làm thành khăn choàng cắt tóc; riđô cho các cặp vợ chồng; khăn quàng cổ mùa đông; mũ sắt làm cối giã cua, chậu đựng nước thử săm thủng của thợ sửa xe đạp, gầu múc nước; đèn làm từ vỏ quả đạn M79, ống pháo sáng...
Triển lãm cũng trưng bày 16 loại đồ dùng gồm điếu cày, gạt tàn thuốc lá, vỏ phích, đĩa đựng chén uống nước, hòm đựng quần áo, bàn uống nước... làm từ xác máy bay. Đặc biệt, có 5 loại đồ dùng làm từ xác máy bay B52 bị bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam bắn cháy trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972.
Triển lãm nhằm giúp người xem nhớ về chiến thắng hào hùng của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến, cũng như cuộc sống sinh hoạt đời thường của nhân dân Việt Nam thời bấy giờ.
Triển lãm "Tôi kể chuyện này" của nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, phóng viên báo Hà Nội mới được tổ chức nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" đã thu hút hàng trăm người tới tham quan.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến chia sẻ, những kỷ vật thiêng liêng này anh đã tâm huyết, nung nấu và canh cánh lưu giữ bên mình suốt những năm tháng qua. Việc tổ chức triển lãm ngoài ý nghĩa to lớn tái hiện lại một phần lịch sử hào hùng của đất nước, còn nhằm ca ngợi sự tài tình, sáng tạo của người dân Việt Nam khi đã biến những phế liệu chiến tranh thành những đồ dùng hữu ích hàng ngày, mang tính thẩm mỹ cao bằng chính đôi bàn tay, khối óc của họ.
Từ đây, anh muốn gửi thông điệp tới bạn bè, công chúng rằng, chiến tranh khép lại, lịch sử đã đi qua cần được tôn trọng, nhưng hãy rộng lượng để hướng tới hoà bình và những vũ khí chiến tranh chỉ đơn thuần là những đồ vật thông dụng./.
Không chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách Thành phố Hà Nội và Trung ương, huyện Đông Anh đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích để huy động mọi nguồn lực trên địa bàn thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới (XDNTM).
Xác định khối doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện là một nguồn lực đáng kể để có thêm ngân sách XDNTM, huyện Đông Anh đã chủ trương tuyên truyền, vận động và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía các đối tác. Bản thân các doanh nghiệp cũng hiểu, đóng góp tham gia XDNTM chính là đầu tư dài hạn cho việc kinh doanh nên trong năm 2012 các doanh nghiệp đã ủng hộ gần 130 tỷ đồng. Số tiền này huyện đã kết hợp với nguồn ngân sách địa phương giải ngân xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong huyện được 49km đường trục thôn, liên thôn; 68km đường ngõ xóm; 13km đường nội đồng.
Anh Nguyễn Hùng Cường, kỹ sư Công ty xây lắp Đông Anh cho biết: “Đầu năm, nghe lãnh đạo cơ quan phổ biến công ty sẽ tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng thực hiện chủ trương XDNTM trên địa bàn huyện, chúng tôi hồ nghi lắm! Nhưng, đến thời điểm này, bản thân những người kỹ sư bám cơ sở như chúng tôi mới thấy hiệu quả. Chúng tôi đi thi công công trình xây lắp ở các xã nông thôn thì đường sá đã hoàn thiện, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu và thi công. Chủ trương đúng và thực hiện nghiêm túc trong việc XDNTM cũng làm hiệu quả kinh doanh của công ty chúng tôi tăng trưởng”.
Huyện Đông Anh đã huy động nhân dân hiến gần 58.000m2 đất và đóng góp hơn 18.000 ngày công xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất, dân sinh. Đất đai như miếng cơm, manh áo, là tài sản lớn nhất của người nông dân nhưng để người dân tự nguyện, phấn khởi hiến 58.000 m2 là cả một quá trình dài. Thành quả đó phải có sự bắt tay, chung sức, chung lòng của toàn thể hệ thống chính trị từ cấp thôn trở lên với sự tuyên truyền, vận động thấu tình, đạt lý. Anh Lê Phong ở xã Hải Bối kể rằng: “Đất đai có tự đẻ ra được đâu nên không thể cứ bo bo ôm đất đai để rồi lạc hậu mãi được. Nhà tôi có vài sào đất 5% ven đê sông Hồng chỉ độc canh trồng rau 1 mùa khô vì mùa lũ lên đất bị ngập hết. Khi nghe cán bộ đến vận động hiến 1 phần diện tích đất ấy để xây dựng đường đê kiên cố hơn thì vợ con tôi phản đối kịch liệt nhưng tôi đồng ý ngay. Từ khi đường đê được kiên cố hóa, diện tích đất còn lại của nhà tôi có thể thâm canh 2 - 3 vụ rau trong năm nên thu nhập cũng tăng lên. Bây giờ tôi mới bảo vợ con tôi rằng: Hiến đất thì đất biết đẻ ra tiền đấy! Vợ con tôi chỉ cười trừ”.
Bên cạnh nguồn thu từ các doanh nghiệp, trong năm vừa qua, huyện Đông Anh đã tổ chức đấu giá được 12.350m2 đất với tổng kinh phí 207,9 tỷ đồng, thu về ngân sách được 96 tỷ đồng phục vụ công tác XDNTM. Từ nguồn lực đó, đến nay, huyện Đông Anh đã có 23 xã được phê duyệt đề án NTM cấp huyện; về quy hoạch NTM có 22/23 xã được phê duyệt, còn lại xã Cổ Loa do nằm trong khu vực di tích lịch sử quốc gia nên phải chờ Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Đơn cử như xã điểm Xuân Nộn, từ chỗ có 2/19 tiêu chí đạt, đến nay đã có 18/19 tiêu chí đạt và cơ bản đạt. Ở 22 xã còn lại đều đạt và cơ bản đạt từ 12 đến 14 tiêu chí; cơ sở hạ tầng được cải tạo đồng bộ như đường giao thông cơ bản được cứng hóa; 100% hộ dân được dùng nước sạch, nước hợp vệ sinh và dùng điện bảo đảm an toàn; 100% diện tích đất canh tác 3 vụ được tưới tiêu chủ động…
Bí thư Huyện ủy Đông Anh Nguyễn Văn Quang nhận định: “XDNTM là nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống chính trị. Trong đó, nguồn lực lớn nhất là trong cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn”. Đây là cách làm hay mà Đông Anh đã ứng dụng thành công để chương trình XDNTM thực sự là của dân, do dân và vì dân./.
Hà
Nội ngàn năm, Hà Nội đích thực của chúng ta ở trong chính những con
người bình thường Hà Nội, trong lời ăn tiếng nói và cách ứng xử ân cần,
niềm nở.
Người Hà Nội rất trọng tình nghĩa, truyền thống văn hóa
Hà Nội là
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước, là đế đô lâu đời của
nước Việt từ thời Lý Thái Tổ mộng thấy “Rồng bay lên” cùng vương
triều Lý và vận nước. Chỉ hơn 360 ngày nữa thôi là chúng ta sẽ long
trọng kỷ niệm “Một ngàn năm Thăng Long- Hà Nội”. Như vậy, Hà Nội rõ là
“tỉnh’, là “phố”- “thành phố” trong đối trọng với “nông thôn”- “làng”
rồi! Và lời ăn tiếng nói, giao tiếp văn hoá của người Hà Nội sẽ phải
có nhiều cái khác, cái văn minh lịch sự, gọt giũa, tinh hoa hơn so với
nơi thôn ổ, làng quê.
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài.
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.
Vậy mà ta
cứ ngờ ngợ thay, có phải hồn cốt Hà Nội ở đây chăng trong những phố
phường tấp nập, bên tháp Rùa rêu phong, hoàng thành cổ kính, hay trong
những toà tháp mới xây chọc trời, trên những hàng cây cổ thụ ngàn năm
tuổi, hay thấm vào mẹt bún chả, bát bún riêu, vào mùi hoa sữa, vào
hương cốm Vòng trong tiết lạnh đầu thu?
Một hôm
giữa phố phường đông như mắc cửi, tắc nghẽn trong ngõ nhỏ của thời kỳ
đô thị hoá với tốc độ chóng mặt, ta hoa mắt, mất phương hướng và có thể
lạc đường ngay giữa phố quen. Chỉ một đoạn thôi mà không biết làm sao
để có thể từ Bệnh viện Giao thông ra phố Nhân Chính? Người thành phố
không quen hỏi đường, không ai lại hỏi đường. Người thành phố phóng như
bay trên những con SH, Spacy hàng trăm phân khối hoặc lượn vè vè trên
xe bốn bánh đời mới của Toyota Hoàn Kiếm, Thăng Long…Nhưng chẳng lẽ
chịu đứng chôn chân không nhúc nhích để làm người thành phố 100% rồi
đến tối vẫn chưa về đến nhà sao?
Ta
đánh bạo hỏi một người đi đường vừa tới- một cậu thanh niên trạc tuổi
hai mươi. Cái tuổi này là dễ làm ngơ, phớt lờ mọi chuyện, hỏi không
buồn nói nữa đây. Thật không ngờ, ta lại được sự chỉ dẫn ân cần, chu
đáo: “Cứ rẽ lối này, đi thẳng đường làng, men dọc bờ ao là rẽ ra làng
Nhân Chính đấy. Bác đừng rẽ trái hay phải gì, bác nhé. Cứ thẳng lối mà
đi là đến”.
Chừng
chưa yên tâm, cậu ta vọt lên trước dẫn đường, thấy người khách lạ đã
rẽ đúng con đường vào làng mới yên tâm quay lại. “Đúng rồi, bác cứ
thẳng đường làng mà đi”. Một chị bán rau, một anh bơm xe đạp, chẳng
đợi khách hỏi thăm cũng xởi lởi dặn dò. Khách qua rồi, họ còn ngóng
theo xem chừng khách có đi đúng con đường mình chỉ mà tìm đúng lối ra
hay không. Tất cả mấy người đều có âm sắc hơi kéo dài trong giọng nói-
âm sắc dễ nhận ra của những làng ven Hà Nội. Họ đều là người làng Nhân
Chính cả. Tất cả đều sốt sắng, xởi lởi, ân cần, đều cư xử thân gần như
với người nhà , người cửa hay chính người làng mình đi xa lâu ngày về.
Trong
ta dâng lên cảm giác an bình, êm dịu, thân ái xiết bao. Không còn chút
sợ hãi về những vụ cướp của giết người giữa phố, không mảy may lo nghĩ
về sự giả dối lọc lừa. Ở đâu đó vụ “Giết người trên xe Lexus”, chém
nhau bằng mã tấu tự tạo… chứ không phải ở đây- Hà Nội ngàn năm thanh
lịch của chúng ta. Và ta nhận ra hình như đó mới chính là Hà Nội: lời
ăn tiếng nói hiền hoà, cách giao tiếp ân cần , chu đáo, thân mật và
chất phác như chính những làng quê yên bình nằm trong lòng thành phố:
làng Bưởi, làng Láng, làng Cót, làng Chèm, làng Nhân Chính…
Hà
Nội ngàn năm, Hà Nội đích thực của chúng ta ở trong chính những con
người bình thường Hà Nội, trong lời ăn tiếng nói và cách ứng xử ân cần,
niềm nở, chân thật .
Nghe có vẻ như là một nghịch lý. Nhưng ngẫm ra thì đúng là như vậy.
Theo
các nhà nghiên cứu, đô thị Việt Nam truyền thống được hình thành bởi
quốc gia. Thăng Long – Hà Nội cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Ba mươi
sáu phố phường của Thăng Long ban đầu có tiền thân là những dãy hàng
sản vật của các địa phương lân cận, phục vụ cho cư dân của kinh thành.
Mỗi phố một mặt hàng, mỗi mặt hàng tiêu biểu cho một vùng quê: Hàng
Tre, Hàng Cót, Hàng Bồ, Hàng Chĩnh, Hàng Đào, Hàng Mắm, Hàng Lược…
Người
dân của các miền quê không chỉ mang tới nơi đô thành những sản vật đặc
trưng của địa phương mình mà còn mang đến cả lời ăn tiếng nói, lối ứng
xử… góp chung thành nền văn hiến ngàn năm. Rồi trên địa bàn Hà Nội, từ
năm cửa ô đổ vào, có bao nhiêu tên phố và cũng bao nhiêu tên làng. Rõ
ràng là những làng truyền thống: làng hoa Ngọc Hà, làng Bưởi, làng
Vòng, làng Láng, làng Mọc, làng Yên Phụ…
Thăng
Long –Hà Nội là thành phố nhưng là đô thị do quốc gia sinh ra, là kinh
đô của một quốc gia nông nghiệp mang trong mình những đặc trưng riêng
của nền văn hoá nông nghiệp. Cái văn hoá “làng” từ bốn ngàn năm của
quốc gia Việt Nam đã chắt lọc nên tinh hoa văn hoá của thủ đô ngàn năm
văn hiến. Và cái hồn thiêng ấy không phải là gì khác lối sống trọng
tình của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đặc trưng trong văn hoá giao tiếp
của họ hiển nhiên là: có thái độ trọng giao tiếp; lấy tình cảm làm
nguyên tắc ứng xử; có ý thức trọng danh dự về mặt chủ thể giao tiếp và
đặc biệt quan tâm đến đối tượng giao tiếp đến hay hỏi han, quan sát,
đánh giá tỉ mỉ từ hình thức đến nội dung; cách thức giao tiếp mềm mỏng,
tế nhị với sự hỗ trợ của hệ thống nghi thức lời nói phong phú…
Như
vậy, những nét văn hoá “Hà Nội” nhất cũng là những nét văn hoá đặc
trưng nhất của văn hoá Việt Nam. Những người dân với lối sống giản dị,
khiêm nhường, lối ứng xử, giao tiếp ân tình, mộc mạc, niềm nở chính là
những người dân tiêu biểu của Hà Nội văn hiến ngàn năm. Những người dân
xứ kinh kỳ của một nước sống bằng nghề trồng lúa nước ý thức hơn ai hết
cái tai họa “lụt thì lút cả làng” và hiểu rõ tầm quan trọng của sự cố
kết cộng đồng làng xã. Họ tận dụng mọi phương tiện của giao tiếp để tạo
lập, củng cố và thắt chặt những quan hệ ấy, bởi hơn ai hết họ biết rõ
sức mạnh của khối cộng đồng được gắn bó bởi sợi dây tình cảm. “Yêu nhau
vạn sự chẳng nề”.
Vì
vậy, người Hà Nội chúng ta không phải người dân đô thị lạnh lùng, cô
độc “đèn nhà ai nhà ấy rạng” mà ngược lại, luôn quan tâm, chu đáo với
nhau cả khi “tối lửa tắt đèn” lẫn trong cuộc sống thường ngày. Trọng
tình là giá trị truyền thống trong nền văn hoá mang đậm tính cộng đồng
của chúng ta. Và thái độ ân cần, niềm nở trong giao tiếp chính là một
nét đẹp của văn hoá người Hà Nội.
Để
tỏ ra là người “thành thị” văn minh, chúng ta không cần tạo ra khuôn
mặt lạnh, không cần phớt tỉnh, thờ ơ khi có ai cần giúp đỡ, hỏi han;
không nhất thiết đi suốt chuyến tàu không cần biết người bạn đồng hành
về đâu, tên là gì mới là “tôn trọng tự do cá nhân” và chỉ lắc hay gật
hoặc chỉ tay “đọc bảng ngoài kia, anh không biết chữ à?” để thể hiện là
người của thời đại công nghiệp, khẩn trương và tốc độ…
Ngược
lại, hãy làm như chị bán rau, như anh chữa xe đạp, như cậu thanh niên
gốc làng Nhân Chính (mà nay đã thành “phố” rồi)... Hãy quan tâm, niềm
nở, ân cần trong giao tiếp. Như với chị ta, mẹ ta và em ta…Và hãy tự
hào là người Hà Nội, tự hào cất lên tiếng hát: “Đây Thăng Long, đây
Đông Đô , đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu…”.
Người Hà Nội và giá trị văn hóa dân tộc - hiện đại
1. Ý thức cộng đồng kỳ diệu Nhà, Làng, Nước
Dân tộc ta và người Hà Nội đều xuất thân từ xã hội nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, tự cung tự cấp, trên môi trường nhiệt đới cận biển, gió mùa, nhiều thiên tai, bão tố, lụt lội... Tọa lạc trong ngã ba đường thuận lợi giao lưu kinh tế - văn hoá với nhân loại, nhưng giặc ngoại xâm lại luôn quấy nhiễu, ý thức cộng đồng đã cố kết, đoàn kết mọi người trước thiên tai, địch họa trong lịch sử dựng nước, giữ nước lâu dài, gian khổ.
Trong đời sống xã hội Việt Nam, gia đình có một vai trò đặc biệt quan trọng. Gia đình truyền thống của người Hà Nội, từ thời Hùng Vương đến nay, đều là gia đình thuận hòa, hiếu thảo, đầm ấm. Dù đã nhiều đời sinh ra, lớn lên ở thành phố, vẫn gắn bó Nhà (gia đình) với Làng quê và Đất nước, với văn hóa cổ truyền dân tộc. Nước mất thì nhà tan. Làng xóm gặp hoạn nạn, mọi gia đình cũng không yên. Gia đình nghèo khó thì cũng khó làm trọn vai trò con dân của làng, nước. Mối quan hệ kiềng ba chân Nhà - Làng - Nước chính là triết lý, là ý thức cộng đồng của người Việt. "Trong lịch sử lâu dài của nước ta, hệ thống cơ cấu Nhà - Làng - Nước là cột trụ làm nên sức sống của dân tộc, nó là ba cái khâu của một sợi dây chuyền không gì phá vỡ nổi, mỗi khâu đều có tầm quan trọng của nó"(1). Bà con ở các miền quê ra Hà Nội làm ăn đã lâu đời, hay ra nước ngoài làm ăn, dù giàu hay nghèo, dù theo tôn giáo nào, đều đau đáu hướng về gia đình, tổ tiên, họ mạc, quê hương, đất nước. Dường như có một quy luật "cái khổ nhớ lâu", chứ có mấy ai nhớ lâu cái sướng, cái vui.
Ý thức cộng đồng kỳ diệu Nhà, Làng, Nước là cái hay, đẹp của văn hóa - xã hội cội nguồn dân tộc ta. Đó là chất keo gắn bó mọi người Việt Nam. Tách khỏi cộng đồng, cá thể khó tồn tại được trước thiên tai, địch họa. Cái nổi trội là cộng đồng. Trong xã hội xưa nghèo nàn, lạc hậu, cái cộng đồng lấn át cá nhân, hòa tan mọi cá nhân tự do sáng tạo trong cộng đồng. Cái bất cập là ý thức cá nhân dường như chưa khẳng định được vị thế của nó trong xã hội cổ truyền và kể cả "thời bao cấp".
Ý thức cộng đồng của người Việt Nam và Hà Nội rất cần được gìn giữ, phát huy trong cuộc sống hiện đại. Nhưng đã đến lúc cần phát triển được ý thức cá nhân lành mạnh của mỗi người Hà Nội trong nền văn minh trí tuệ, với kinh tế tri thức đầy cạnh tranh của nhân loại.
Người Việt Nam, người Hà Nội vốn thông minh, nhạy cảm, năng động tiếp cận cái mới trong khoa học và trong sáng tạo. Xin dẫn một thí dụ về Việt kiều với công nghệ thông tin thế giới: "Chỉ tính riêng tại thung lũng Silicon (Mỹ) hiện có 10.000 - 12.000 người gốc Việt đang làm việc... Ông Ngô Đức Chí, Tổng giám đốc Global Cybersoft Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh nói: "Thành công nhất của chúng tôi chính là được khách hàng rất tin tưởng. Chúng tôi có nhiều nhân viên giỏi, có kinh nghiệm trong ngành bán dẫn để thực hiện việc tự động hoá cho những nhà máy sản xuất chíp của châu Âu... Dường như người Việt sinh ra để làm phần mềm. Các đối tác cũng sẵn sàng sử dụng kỹ sư Việt Nam vào các dự án nghiên cứu và phát triển, tạo ra sản phẩm mới"(2).
Ngày nay, thế giới như một cái làng toàn cầu. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, vấn đề phát huy ý thức cộng đồng và phát triển ý thức cá nhân tự do sáng tạo, lòng tự tôn dân tộc chân chính và nhân tài khoa học trong mọi lĩnh vực là những đòi hỏi có tầm chiến lược đối với Hà Nội và cả nước. Đó là tạo điều kiện cho mọi người Hà Nội năng động học tập, tiếp cận cái mới về khoa học, công nghệ... để độc lập suy nghĩ, sáng tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh quốc tế (giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô, hàng hoá giá trị thấp), để đưa nước ta ra khỏi tình trạng tụt hậu, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
2. Nền tảng văn hoá cội nguồn dân tộc ta
Đạo lý làm người của dân tộc ta, của người Hà Nội vốn được hình thành từ thời Hùng Vương, khi xã hội đã có thủ lĩnh, tù trưởng, với vua Hùng và các Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc dân... Nhiều truyện cổ tích nói về nền nếp gia đình, xã hội thời dựng nước: Lạc Long Quân dạy dân cày cấy, chăn tằm, dệt lụa, đặt ra tôn ti, đạo cha con, vợ chồng. Chuyện Chử Vi Vân và con Chử Đồng Tử cha hiền từ, con hiếu thảo. Thánh Tản Viên có gậy thần chống lụt, cứu sống nhiều người, gia súc; hàng ngày vẫn kiếm củi, đốt than nuôi mẹ. Chuyện Động Đình Vương có tài thủy chiến, hết lòng vì nước, được giao trấn vùng hạ lưu sông Hồng. Động Đình Vương là con trai Hùng Nghị Vương (con vua Hùng thứ 17) và Hằng Nương quê ở Nghi Tàm, sống ở làng Long Đỗ (Thành cổ Thăng Long hiện nay)(3). "Thần thoại có khi giàu tính lịch sử, bởi nó là lịch sử thông qua tính sáng tạo thơ mộng của dân gian"(4).
Thời phong kiến, nước ta và các nước Đông Á lấy Nho giáo làm nền tảng luân lý, giáo dục xã hội xưa; hướng mọi người vào chính danh định phận theo tam cương, ngũ thường (cương thường). "Tam cương" nói vắn tắt là 3 quan hệ, trật tự chủ yếu trong xã hội phong kiến: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng (quân - thần, phụ - tử, phu - phụ) và mở rộng ra là ngũ luân (vua - tôi, cha - con, anh - em, vợ - chồng, bạn bè). "Ngũ thường" là 5 đức cơ bản của đạo làm người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Người trên (vua, cha, chồng) phải thương yêu, chăm sóc, bao dung người dưới (tôi, con, vợ). Người dưới phải kính nhường, thương yêu, phục tùng và biết ơn người trên. Đạo đức Nho giáo lấy sự thuận hoà, thái bình, hòa mục, trật tự, làm nền tảng để xây dựng xã hội (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ, anh ra anh, em ra em, bạn ra bạn và thầy ra thầy, trò ra trò, chủ ra chủ, thợ ra thợ...). Nho giáo có điểm mạnh là xác lập được các quan hệ, trật tự xã hội phong kiến. Nhưng, quan hệ vua - tôi: "trung quân, ái quốc" lại trói buộc cá nhân dưới quyền uy vua chúa, thần quyền; làm mất quyền tự do, dân chủ phát triển cá nhân của mọi người. Một điểm yếu nữa của Nho giáo là nam tôn nữ ty (trọng nam khinh nữ).
Trước hoàn cảnh đó, ông bà ta đã biết khéo léo gìn giữ văn hóa nội sinh và dung hợp Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, kể cả Kitô giáo... để làm giàu thêm văn hóa dân tộc. Bản sắc dân tộc đọng lại bền vững trong tâm thức người Việt Nam qua những biểu hiện văn hóa rất đậm nét:
Trước tiên, mọi người đều hướng tới chữ "tâm". Mọi gia đình đều răn dạy con cháu "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín"; đều cảm nhận lẽ chuyển dịch vi hằng của mối quan hệ trời - đất - người" (thiên - địa - nhân hợp nhất). Ở bái đường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, vị đại quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long, Nguyễn Nghiễm (thân phụ đại thi hào Nguyễn Du) hiện còn để lại bức đại tự "Cổ kim nhật nguyệt" (tạm dịch: từ xưa đến nay mặt trời, mặt trăng luôn soi sáng; ai làm điều khuất tất trời đất đều biết cả). Một lời dạy về thiện tâm cho muôn thuở!
Mọi người đều xem vận mệnh đất nước là hệ trọng nhất. Đó là lòng yêu nước nồng nàn: biểu hiện văn hóa là tôn thờ các anh hùng, liệt sĩ "sinh vi tướng tử vi thần", có công với đất nước, quê hương ở các đình, đền, cả ở chùa, miếu... Việc trồng lúa nước, văn hóa làng xã đòi hỏi sự cố kết cộng đồng, biểu hiện rõ nhất là nhiều lễ hội cầu mùa, cầu "quốc thái dân an", cầu "âm dương hòa hợp", phồn thực, "đa phúc, đa lộc, đa thọ". Người Việt Nam rất trọng tình nghĩa và luôn bao dung, xóa bỏ hận thù, chia ngọt sẻ bùi, giúp nhau khi hoạn nạn. Mọi gia đình đều coi trọng văn hóa tâm linh, thờ cúng tổ tiên, âm đức tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ Quốc tổ Hùng Vương. Mọi gia đình đều dạy con cháu biết hiếu thảo, siêng năng, cần kiệm, biết lo xa, sống nhân hậu.
Xã hội tôn trọng những gia đình có nền nếp gia phong, con cháu biết lễ nghĩa, kính trên nhường dưới, thuận hòa, tôn sư trọng đạo... "Chữ Lễ bao hàm ba nghĩa: tôn giáo, xã hội và luân lý. Nó gồm cả lễ nghi trong việc thờ cúng, nghi thức trong quan hệ xã hội, tác phong đúng mực của con người biết tự trọng, ngay cả khi ở một mình con người cũng phải biết giữ lễ. Việc giữ lễ bao trùm cả đời sống cá nhân và xã hội"(5). Tự trọng danh dự bản thân từ người dân cho đến cán bộ cao cấp là điều luôn phải tự răn mình: "Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng".
Người Việt Nam, người Hà Nội luôn năng động sáng tạo, thích nghi trước mọi hoàn cảnh, tình huống, dù thiên tai, địch hoạ bất ngờ. Từ nghìn xưa đến nay, trong giao lưu, tiếp cận với văn hoá ngoại sinh, dân tộc ta luôn dung hợp những giá trị văn hóa vì lợi ích dân tộc, chứ không giáo điều tiếp nhận "cả gói". Trong hai lần, dù bị cưỡng bức, tiếp xúc với văn hóa phương Bắc, phương Tây, nhưng bằng trí tuệ sáng tạo, dân tộc ta đã Việt hóa thành công chữ Nôm, chữ Quốc ngữ. Ngày nay, đội ngũ trí thức, thế hệ trẻ trong nước và Việt kiều đang tiếp cận sáng tạo, làm chủ công nghệ thông tin, nanô... cũng chính là biểu hiện thế mạnh, khả năng thích nghi, năng động sáng tạo, vượt qua thách thức. Đó là ý chí tự cường, tự tôn dân tộc để vươn lên, chứ không chịu thu mình lại, để mất thời cơ, để đưa nước ta vượt qua tình trạng trì trệ, tụt hậu hiện nay. Còn khi gặp nhau, bạn bè lại thường thích vui dân dã, đôi khi chất dân gian mạnh hơn tính chính thống.
Những bản sắc trội đó của văn hóa cội nguồn Việt Nam được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Thăng Long - Hà Nội và mọi miền đất nước.
Vấn tổ, tìm tông, trong xã hội Việt Nam từ xưa đến nay, người con trai trưởng chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Hàng năm vào các ngày giỗ, các anh em trong gia tộc đến góp giỗ tuỳ theo khả năng, để thờ cúng và cùng hưởng lộc tổ tiên. Chính các ngày giỗ chạp đó mà anh em, con cháu trong họ có dịp sum họp, hàn huyên, giúp đỡ nhau trước những việc nảy sinh trong cuộc sống của các thành viên trong gia tộc. Trong xã hội thuần nông, tự cung tự cấp, nhiều thiên tai, địch họa bất ngờ, tình cảm gia đình thiêng liêng và ý thức cộng đồng Nhà - Làng - Nước luôn đùm bọc, tuy không lớn về vật chất, nhưng lớn về tình cảm và đã giúp cho từng người vượt qua khó khăn thường nhật. Sự bền vững của gia đình cổ truyền Việt Nam được củng cố nhờ mối dây huyết thống đó.
Trong quan niệm của người Việt, người Hà Nội, phúc, đức là giá trị văn hoá cao quý nhất. Phúc là điều may mắn lớn, sự tốt lành lớn. Đức là đạo đức, lòng nhân ái, lòng thương người và thương cả muôn loài sinh vật nữa. Như vậy, phúc đức của gia đình vừa đậm đà ý vị tâm linh, vừa giáo dục, nhắc nhở hướng thiện. Nói "gia đình vô phúc" là một sự chê trách rất nặng nề. Một cô, cậu con nhà nào ăn chơi hư hỏng (trai gái đĩ điếm, cờ bạc, nghiện hút...) thường bị gọi là con nhà vô phúc. Phúc gắn liền với đạo nghĩa, vô phúc là vô đạo, vô văn hóa. Nhà có phúc không nhất thiết là giàu có, sang trọng, mà cái chính là có cuộc sống bình yên, đặc biệt là có hậu vận tốt, dù lúc khởi nghiệp gặp khó khăn, vất vả, nhưng cuối cùng vẫn được hanh thông, bình yên, tiến bộ, con cháu phương trưởng. Xưa nay, nói đến truyền thống văn minh, thanh lịch Hà Nội là nói đến gia đình có phúc đức, là con cháu có học, làm nên danh phận, chí ít cũng có nghề, làm ăn chân chỉ "giữ được tiếng với đời"; ăn ở thuận hoà với gia đình, họ mạc, quê hương, không làm điếm nhục gia phong, để không ai trách cứ ông bà, cha mẹ. Ông bà ta thật đã dày công gây dựng quan niệm về phúc đức trở thành thuần phong mỹ tục và lòng tự trọng cao để mọi người, gia đình, xã hội yên ổn phát triển.
3. Truyền thống văn minh, thanh lịch của người Hà Nội
Từ xưa đến nay, Thăng Long - Hà Nội được xem là đất địa linh nhân kiệt, là nơi hội tụ, lan tỏa tinh hoa văn hóa của mọi vùng ra cả nước. Ban đầu là những người dân "gốc Hà Nội" sinh sống, làm ăn, mở chợ buôn bán nông, lâm, thổ sản trên bến dưới thuyền tấp nập bên sông Nhị Hà, sông Tô Lịch, bến Long Đỗ (Rốn Rồng). Rồi suốt mấy nghìn năm, nhất là từ khi Lý Thái Tổ định đô Thăng Long, cùng với các triều đại phong kiến độc lập, tự chủ Lý, Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn, bà con các vùng từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam, người Huế, Đồng Nai, Gia Định, người dân tộc, miền núi... đều là những người tài giỏi, lịch lãm, đổ về "cái lò luyện nhân tài Thăng Long - Hà Nội" sinh sống lâu dài.
Người tài thì lên làm vua, làm quan. Học trò về Thăng Long, Hà Nội đi thi, mong đỗ đạt tú tài, cử nhân, tiến sĩ, trạng nguyên để "Vua biết mặt, chúa biết tên". Người học cao, đức trọng thì mở trường, lớp dạy học trò, luyện nhân tài cho đất nước. Người giỏi buôn bán thì mở cửa hàng nông, lâm thổ sản, buôn hàng Tầu, Nhật, Âu Mỹ... Người giỏi tay nghề thì mở làng nghề, phố nghề. Các khách thương người Hoa, Ấn Độ, Nhật, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Pháp, Đông Nam Á... đến dựng nhà, lấy vợ lấy chồng, buôn bán, làm ăn. Hàng hóa tiêu dùng rất đa dạng, phong phú của Thăng Long - Hà Nội không chỉ đáp ứng nhu cầu của triều đình mà còn bán ra cả nước, vùng Đông Nam Á và ra thế giới.
Sống nơi thị thành, đô hội, giao lưu kinh tế, văn hoá đa dạng, đa chiều, văn minh, thanh lịch, ăn nói có duyên, hoạt bát, lịch sự... như những nét văn hóa riêng của người Hà Nội. Khác với những địa phương khác, người ta có thể nói rất thẳng, thậm chí bỗ bã ý nghĩ của mình, thì người Hà Nội ở chốn kinh kỳ, diễn đạt cũng vấn đề ấy một cách tế nhị, nền nã, tinh tế hơn, ít lời hơn, ý tứ hơn, mà vẫn đạt mục đích: "Lời nói không mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".
Nếu có dịp sống, quen biết với một gia đình người Hà Nội lâu năm, dù làm nghề gì ta đều thấy họ nói năng, cư xử trong gia đình, với con cháu, bạn bè xã hội và quốc tế với sự tôn trọng, nền nã, khiêm nhường, kiệm lời, nhã nhặn, tự tin, nhẹ nhàng, khéo léo, ý tứ, để tự xử sự cho phải đạo là chính, hơn là chỉ bảo, ra lệnh. Điều đó cũng dễ hiểu, trong môi trường giao lưu, buôn bán, làm ăn với người "tứ xứ" hợp lại, kể cả nhiều kiểu người, nhiều khách nước ngoài đến làm ăn, người Hà Nội thường biết giảm, tránh những va chạm, xung đột không cần thiết. Nếu có sự khác nhau về nhận thức, quyền lợi, họ cũng thường biết nhường nhịn đến độ cần thiết; còn nếu nhường vẫn không đạt, thì tế nhị rút lui, không làm mất lòng nhau, để lần sau còn có dịp lại làm ăn với nhau.
"Người khôn, của khó", người Hà Nội biết mở mang ra mà làm ăn, không thủ cựu khép kín, cũng không tham "ăn đậm", "rộng đồng thu lại, tích tiểu thành đại". Học người, học bạn bốn phương mà giỏi tay nghề, tăng hiểu biết, tinh tế hơn, sáng tạo giỏi hơn để đua chen với thiên hạ là nếp làm ăn của người Hà Nội văn minh, thanh lịch. Tài năng, sức học, trí thông minh sáng tạo khoa học, công nghệ, nghệ thuật, học hành của người Hà Nội, tuổi trẻ Hà Nội nổi tiếng trong nước và quốc tế.
Áo lụa, đũi tơ tằm, lĩnh Bưởi, giấy dó, giấy sắc phong, chả cá Lã Vọng, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét, bún thang, bún ốc, xôi lúa Tương Mai, cốm Vòng, hoa đào Nhật Tân... xưa; áo dài, complê, giầy dép, quần áo may sẵn; sách báo, văn học nghệ thuật, cà phê, xe đạp, ti vi, máy tính Hà Nội, khóa Việt-Tiệp, ghế Xuân Hòa, Vietnam Airline... ngày nay, được bốn phương quen biết, ưa chuộng. Các giá trị văn hóa dân tộc, khoa học hiện đại và hàng tiêu dùng đều được lăng kính văn hóa người Hà Nội chắt lọc dung hợp, nâng lên đến độ tinh tế, thành tinh hoa văn hóa Hà Nội, mà mọi người đều cảm nhận được. Suy cho cùng, chính môi trường đô thị "địa linh, nhân kiệt" đã đào luyện nên nhân cách văn hóa tinh tế Hà Nội, mà bất cứ ai nhập vào đều tự nguyện chuyển đổi hành vi theo. Ngày nay, trong quan hệ làm ăn, ngoại giao quốc tế... người ta đều đang phát huy chất văn hóa nhẹ nhàng, tinh tế đó mới thành đạt.
4. Người Hà Nội: cuộc sống hiện đại và văn hoá cội nguồn
Từ hai thập niên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, cùng với chế độ cai trị, bóc lột tàn bạo và quá trình đô thị hóa của thực dân Pháp, văn hóa Hà Nội và Việt Nam có những biến đổi cơ bản. Chữ Hán lâu đời dần nhường bước cho chữ quốc ngữ dễ học, dễ viết. Một số tư tưởng tiến bộ của văn hóa châu Âu như tự do, bình đẳng, bác ái dần dần được du nhập vào nước ta. Nhất là từ Cách mạng tháng Tám 1945, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng dân chủ, tiến bộ nhất được phổ cập. Đặc biệt trong đổi mới, mở cửa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, văn hóa chuyển sang hướng dân chủ, văn minh, tiến bộ, trong khi vẫn trân trọng giữ lại những giá trị tốt đẹp của ông cha ta ngàn đời để lại.
Mặt khác, toàn cầu hóa là xu thế thời đại đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mà nước ta, thủ đô Hà Nội đang chủ động hội nhập. Nền văn minh trí tuệ, công nghệ thông tin... của thế giới, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật Bản... đang phát triển như vũ bão, kỳ diệu, mang đến tiện ích lớn cho nhân loại. Ta có nhiều cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển đất nước, thoát dần khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
Nhưng trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa đang diễn ra những thách thức lớn, tưởng như thầm lặng. Toàn cầu hóa đang dẫn đến "nguy cơ đồng nhất hóa các chuẩn mực, các hệ thống giá trị, đe dọa làm suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hóa - nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững của nhân loại"(6). Chính vì thế mà Hội nghị ASEM 5 tại Hà Nội 2004, các nguyên thủ quốc gia Á, Âu đã ký "Tuyên bố về Đa dạng hóa văn hóa". Nhiều làn sóng văn hóa tràn vào Hà Nội dễ dàng. Mặt trái của "lối sống phương Tây", "lối sống Mỹ" đang du nhập vào Hà Nội, mang theo lối sống cá nhân cực đoan, quá sùng ngoại, thực dụng, quá trọng đồng tiền, coi nhẹ văn hóa dân tộc. Ai sống cũng cần tiền, nhưng tham nhũng, cửa quyền, để mất danh dự, lương tâm vì đồng tiền, vì "tiêu dùng quá mức" mình làm ra, trước sau cũng phải trả giá đắt. Điều đó đi ngược lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta.
Trong đổi mới, mở cửa và tác động nhiều chiều của các yếu tố ngoại sinh, dân tộc ta và mọi người Hà Nội đang chuyển từ lối sống xã hội thuần nông, từ văn hóa truyền thống sang lối sống văn minh công nghiệp. Trong cuộc sống hiện đại và giao lưu quốc tế người Hà Nội vẫn gìn giữ tốt bản sắc văn hóa ngàn năm văn hiến. Đó là chất trí tuệ, nghĩa tình, thanh nhã, duyên dáng, khoa học, hiện đại, nhưng không xô bồ, thái quá, đồng thời cách tân những quan niệm thủ cựu và bổ sung những giá trị mới, phù hợp với sự phát triển xã hội hiện đại. Trong gia đình, lòng hiếu thảo, biết ơn, chăm sóc chu đáo ông bà, cha mẹ khi già yếu, được số đông người Hà Nội xem là nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của con cháu, ông bà có con cháu bên cạnh là nguồn động viên tình cảm thân thương. Đùm bọc các em chưa thành niên, chưa có việc làm, khi cha mẹ đã qua đời, là bổn phận các anh chị đã trưởng thành. Bà con họ hàng nội, ngoại đến thăm nhau ngày tết, khi cháu mới sinh, khi có đám hiếu, hỷ... là một nét đẹp của người Hà Nội. Lúc có vui, buồn, họ hàng, xóm phố... mỗi người đến đều tự nguyện giúp một việc cho chu đáo. Đó là nếp văn minh, thanh lịch, ấm tình người của người Hà Nội.
Cuộc điều tra xã hội học của ngành Văn hóa Thông tin Hà Nội (2004), cho thấy dư luận nhất trí đề cao các giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc ta và của người Hà Nội: yêu nước, ý thức cộng đồng, tự cường dân tộc; hiếu thảo, hiếu học, tôn sư trọng đạo thờ cúng tổ tiên; bổn phận, tự trọng, tình nghĩa, chữ tín; hòa thuận, kính trên nhường dưới, trong ấm ngoài êm, nền nếp, thanh lịch; tài hoa, chuộng người tài, chuộng cái mới, khéo léo, tế nhị, mến khách, quý xóm giềng, bạn bè...
Các giá trị hiện đại, tiến bộ được dư luận Hà Nội coi trọng: dân chủ, tự do, trí tuệ khoa học, văn minh, trách nhiệm, danh dự, bình đẳng, năng động, sáng tạo, công bằng, minh bạch, đoàn kết, tiến bộ, ý thức vươn lên. Đó là sự đồng thuận về giá trị văn hóa dân tộc - hiện đại, tạo nên sự ổn định, phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở thủ đô Hà Nội hiện nay.
Xây dựng Hà Nội văn minh, thanh lịch là từng bước xây dựng lối sống văn minh công nghiệp và nếp sống văn hóa dân tộc - hiện đại, là nâng cao, chuyển đổi hành vi sinh hoạt, giao tiếp và bảo vệ môi trường sống... phù hợp với trình độ phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Thủ đô. Lối sống có liên quan chặt chẽ đến nếp sống. Nếp sống thể hiện kết quả văn hóa hóa quá trình xây dựng lối sống. Nếp sống nói lên tính định hình, định lượng của lối sống về cách nghĩ, hành động phù hợp với quy ước cộng đồng và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong đời sống cá nhân và xã hội. Lối sống, nếp sống, phong tục tập quán là sản phẩm của một thời đại. Xây dựng nếp sống người Hà Nội thanh lịch, văn minh trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là vận động toàn xã hội thực sự tham gia bằng nhiều hình thức sinh động để giáo dục, hướng dẫn kiên trì cho thành nếp, thành thói quen mới, phù hợp với cuộc sống văn minh công nghiệp và hội nhập quốc tế.
Thực tế, cư dân Hà Nội vào thế kỷ XXI ngày nay không phải chỉ là những cư dân cũ của Hà Nội xưa. Mọi người đến làm ăn, kể cả người nước ngoài, đều mang theo những lối sống, nếp sống, phong tục tập quán từ các địa phương, ít nhiều khác biệt với văn hóa Hà Nội. Vấn đề quan trọng là xây dựng lối sống đô thị trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập. "Tốc độ đô thị hóa trở thành những thách thức phát triển lớn nhất của thế kỷ XXI... Nông dân tìm việc làm ở thành phố; cải thiện khả năng sinh sống; giảm bớt đói nghèo, bất bình đẳng và tạo ra môi trường đô thị lành mạnh, giảm tội ác và bạo lực, chế độ bảo vệ công dân và người dân dễ tiếp xúc với các dịch vụ"(7). Cũng như các thành phố khác trên thế giới, Hà Nội cần đồng thời đề ra các quy định bắt buộc và các giải pháp vận động cụ thể nhằm xây dựng hành vi ứng xử văn minh, tự giác của mọi người trước hai nhóm vấn đề chung của văn hóa đô thị hiện đại:
a. Các vấn đề văn hóa về cơ sở vật chất, dân sinh đô thị như sử dụng đất, nhà ở, dịch vụ điện, nước, khí đốt, viễn thông; vỉa hè, vệ sinh công cộng, hệ thống thoát nước, rác thải, khí thải; chống ô nhiễm môi trường; trồng cây xanh, công viên vui chơi giải trí...
b. Các vấn đề văn hóa - xã hội công cộng như tạo thêm việc làm, giảm trẻ lang thang, xóa đói giảm nghèo, sự phân hóa giàu - nghèo quá chênh lệch, giáo dục cơ sở (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học); y tế và bảo hiểm y tế; an ninh xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh và các tệ nạn xã hội, bạo lực, ma tuý, mại dâm, HIV, cờ bạc; những hành vi xấu, tuỳ tiện đối với môi trường công cộng...
Nội dung cơ bản xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch đã được xác định là "Vững vàng về tư tưởng chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có lòng tự hào dân tộc, tự trọng, tâm huyết, trách nhiệm với gia đình, Thủ đô, đất nước; có sức khoẻ, trí tuệ, khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến, nhanh nhạy, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh; lao động cần cù, sáng tạo; có lối sống văn minh, thanh lịch, hiện đại; tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong cách lao động sáng tạo của con người Việt Nam"(8). Đó là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, xã hội và làm cho văn hóa thấm sâu vào từng người Hà Nội theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc sống hiện đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ; Cái gì cũ mà không xấu nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý; Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm; Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm... Đời sống mới chỉ sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc"(9). Những lời dạy giản dị, sâu sắc của Bác Hồ có thể hiểu là hướng dẫn chuyển đổi hành vi về "cách ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc" trong cuộc sống hiện đại.
5. Kết luận
Thủ đô Hà Nội "là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế"(10). Hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô đang đẩy mạnh phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, xã hội toàn diện; xây dựng cơ sở hạ tầng và quản lý đô thị; chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Vấn đề trọng tâm là xây dựng con người Hà Nội vừa hiện đại, vừa giàu bản sắc ngàn năm văn hiến. Ý thức - cộng đồng, yêu nước, văn minh, thanh lịch, chuộng người tài, chuộng cái mới, tinh tế, dung hợp văn hóa tiến bộ của nhân loại thành giá trị văn hóa dân tộc - hiện đại là truyền thống sáng tạo của người Hà Nội. Ngày nay, trong đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, cần phát triển, thu hút các tài năng khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, văn hóa, nghệ thuật... đặc biệt là tạo mọi điều kiện để phát triển sức năng động sáng tạo, ý thức tự cường, tự tôn dân tộc của mọi người Hà Nội để rửa nỗi nhục nghèo nàn, tụt hậu, đưa đất nước đi lên trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức của nhân loại.
Văn minh, thanh lịch biểu thị trình độ văn minh, sự thích nghi, năng động sáng tạo tài hoa của người Hà Nội. Để phát triển nguồn nhân lực và nhân tài của Thủ đô Hà Nội phải liên tục bồi đắp 3 nguồn lực: năng lực (ability) cá nhân, sự nỗ lực (effort) của bản thân và trợ lực (support) của xã hội. Đó là quy luật phát triển nhân lực, nâng tầm phát triển người Hà Nội văn minh, thanh lịch lên một cấp độ mới về chất trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.
- Thủ tướng thăm tàu ngầm Hà Nội
Tiếp
tục các hoạt động chương trình chuyến thăm chính thức Liên bang Nga,
ngày 13/5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Đoàn đại biểu Việt Nam đã
thăm khu vực Kaliningrad (nơi đang thử nghiệm tàu ngầm Kilo 636 đầu
tiên của Việt Nam, mang tên Hà Nội) để động viên, thăm hỏi các thủy
thủ, cũng như kiểm tra tiến độ thử nghiệm tàu ngầm.
ây
là chiếc đầu tiên trong hợp đồng cung cấp sáu tàu ngầm lớp Kilo được ký
kết trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng năm 2009. Bên cạnh việc đóng tàu, hợp đồng còn bao gồm cả việc
huấn luyện thủy thủ Việt Nam và cung cấp các thiết bị, vật tư kỹ thuật
cần thiết.
Tàu ngầm Kilo 636 mang tên Hà Nội được chế tạo tại nhà máy đóng tàu Admiralty Verfi ở St. Petersburg và đang trong quá trình thử nghiệm trên biển ở gần cảng Svetlyi, thuộc Kaliningrad và đã thực hiện thành công 23 cuộc lặn kể từ thời điểm thử nghiệm.
Tàu ngầm lớp Kilo có lượng giãn nước từ 3.000 đến 3.950 tấn, hoạt động ở độ sâu trung bình là 240 m và có thể lặn sâu tối đa 300 m và có tầm hoạt động 6.000 - 7.500 hải lý, thời gian hoạt động độc lập 45 ngày đêm và thủy thủ đoàn 52 người… Tàu Kilo còn có động cơ chạy êm nhất thế giới, thích hợp trong các nhiệm vụ trinh sát và tuần tra.
Ân cần thăm hỏi sức khỏe, tình hình học tập, sinh hoạt của các thủy thủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn tin tưởng vào thế hệ các cán bộ, chiến sỹ tàu ngầm của Hải quân nhân dân Việt Nam, mong muốn các cán bộ chiến sỹ sẽ phát huy tinh thần tích cực, chủ động sáng tạo, vượt khó, nhanh chóng nắm bắt các kiến thức khoa học quân sự hiện đại để có thể làm chủ tàu ngầm sau khi được chuyển giao cho phía Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, chúng ta đang sống trong hòa bình, song nhiệm vụ xây dựng quốc phòng vẫn hết sức quan trọng. Do vậy, quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, lực lượng hải quân nói riêng cần thực hiện nhiều giải pháp sát thực nhằm xây dựng lực lượng thực sự chính quy, hiện đại, đủ khả năng để tự vệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc.
Đảng, Nhà nước sẽ luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ; bảo đảm cho cán bộ, chiến sỹ trong quân đội yên tâm công tác, huấn luyện và chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Thay mặt kíp tàu, Thuyền trưởng, thiếu tá Nguyễn Văn Quán đã báo cáo ngắn gọn với Thủ tướng tình hình học tập và rèn luyện của các sỹ quan Việt Nam. Thuyền trưởng Nguyễn Văn Quán đã thay mặt anh em cán bộ chiến sỹ cảm ơn sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với kíp tàu ngầm Hà Nội nói riêng và quân chủng hải quân nói chung, hứa với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ tiếp tục rèn luyện, học hỏi để có thể nhanh chóng nắm bắt được công nghệ quân sự hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó.
Gặp gỡ với báo chí tại Kaliningrad, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ sự vui mừng được tới thăm thành phố Kaliningrad thanh bình, mến khách. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô trước đây cũng như của Liên bang Nga ngày nay đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, việc Liên bang Nga chuyển giao tàu ngầm cho phía Việt Nam không chỉ là hợp đồng mang tính thương mại mà còn là biểu hiện của mối quan hệ hợp tác hữu nghị, đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Liên bang Nga.
Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cảm ơn sự hỗ trợ và giúp đỡ của Lãnh đạo, nhân dân tỉnh Kaliningrad cho các học viên Việt Nam yên tâm học tập và rèn luyện để có đủ khả năng làm chủ các thiết bị quân sự hiện đại về phục vụ Tổ quốc.
Tàu ngầm Kilo 636 mang tên Hà Nội được chế tạo tại nhà máy đóng tàu Admiralty Verfi ở St. Petersburg và đang trong quá trình thử nghiệm trên biển ở gần cảng Svetlyi, thuộc Kaliningrad và đã thực hiện thành công 23 cuộc lặn kể từ thời điểm thử nghiệm.
Tàu ngầm lớp Kilo có lượng giãn nước từ 3.000 đến 3.950 tấn, hoạt động ở độ sâu trung bình là 240 m và có thể lặn sâu tối đa 300 m và có tầm hoạt động 6.000 - 7.500 hải lý, thời gian hoạt động độc lập 45 ngày đêm và thủy thủ đoàn 52 người… Tàu Kilo còn có động cơ chạy êm nhất thế giới, thích hợp trong các nhiệm vụ trinh sát và tuần tra.
Ân cần thăm hỏi sức khỏe, tình hình học tập, sinh hoạt của các thủy thủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn tin tưởng vào thế hệ các cán bộ, chiến sỹ tàu ngầm của Hải quân nhân dân Việt Nam, mong muốn các cán bộ chiến sỹ sẽ phát huy tinh thần tích cực, chủ động sáng tạo, vượt khó, nhanh chóng nắm bắt các kiến thức khoa học quân sự hiện đại để có thể làm chủ tàu ngầm sau khi được chuyển giao cho phía Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, chúng ta đang sống trong hòa bình, song nhiệm vụ xây dựng quốc phòng vẫn hết sức quan trọng. Do vậy, quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, lực lượng hải quân nói riêng cần thực hiện nhiều giải pháp sát thực nhằm xây dựng lực lượng thực sự chính quy, hiện đại, đủ khả năng để tự vệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc.
Đảng, Nhà nước sẽ luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ; bảo đảm cho cán bộ, chiến sỹ trong quân đội yên tâm công tác, huấn luyện và chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Thay mặt kíp tàu, Thuyền trưởng, thiếu tá Nguyễn Văn Quán đã báo cáo ngắn gọn với Thủ tướng tình hình học tập và rèn luyện của các sỹ quan Việt Nam. Thuyền trưởng Nguyễn Văn Quán đã thay mặt anh em cán bộ chiến sỹ cảm ơn sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với kíp tàu ngầm Hà Nội nói riêng và quân chủng hải quân nói chung, hứa với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ tiếp tục rèn luyện, học hỏi để có thể nhanh chóng nắm bắt được công nghệ quân sự hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó.
Gặp gỡ với báo chí tại Kaliningrad, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ sự vui mừng được tới thăm thành phố Kaliningrad thanh bình, mến khách. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô trước đây cũng như của Liên bang Nga ngày nay đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, việc Liên bang Nga chuyển giao tàu ngầm cho phía Việt Nam không chỉ là hợp đồng mang tính thương mại mà còn là biểu hiện của mối quan hệ hợp tác hữu nghị, đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Liên bang Nga.
Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cảm ơn sự hỗ trợ và giúp đỡ của Lãnh đạo, nhân dân tỉnh Kaliningrad cho các học viên Việt Nam yên tâm học tập và rèn luyện để có đủ khả năng làm chủ các thiết bị quân sự hiện đại về phục vụ Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét